Notice: fwrite(): write of 182 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53Warning: fread(): Length parameter must be greater than 0 in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 32Notice: fwrite(): write of 197 bytes failed with errno=122 Disk quota exceeded in /home/luatsu2026/domains/luatsugiadinh2.net.vn/public_html/storage/modification/system/library/cache/file.php on line 53 Luật sư bào chữa quy trình 4 bước khi soạn thảo hợp đồng - luật sư chuyên hợp đồng kinh tế | luatsugiadinh.net.vn

1.Các lỗi thường gặp trong giao kết hợp đồng lao động

Giao kết hợp đồng lao động

Việc giao kết hợp đồng lao động đượctiến hành trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Tuy nhiên, trong thực tế không hoàntoàn là như vậy. Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động có thể uỷquyền cho người khác giao kết hợp đồng lao động để tuyển lao động. Nhưng đốivới người sử dụng lao động là cá nhân thì phải trực tiếp giao kết hợp đồng laođộng mà không thể uỷ quyền cho người khác (Thông tư số 21/TT-BLĐTBXH ngày22/9/2003).

Người lao động trực tiếp giao kết làchủ yếu, bởi vì việc tham gia hợp đồng lao động có tư cách cá nhân. Nhưng mộtnhóm người lao động nhất định cũng có thể uỷ quyền cho một người lao động (cùngnhóm) giao kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên việc uỷ quyền của một nhóm ngườilao động cho một người lao động giao kết hợp đồng lao động chỉ áp dụng đối vớihợp đồng lao động có xác định thời hạn. Trong trường hợp đó phải có văn bản uỷquyền hợp pháp theo quy định của pháp lụât.

Những người lao động dưới 15 tuổivẫn có thể tự mình giao kết hợp đồng lao động nhưng phải có sự xác nhận bằngvăn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp mới có giá trị.

Thời điểm bắt đầu có hiệu lực củahợp đồng lao động:

Hợp đồng lao động có hiệu lực ởnhững thời điểm khác nhau tuỳ thuộc vào ý chí, hành vi của các bên.

+ Nếu hợp đồng lao động do các bênthoả thuận, các bên có thể ấn định thời điểm có hiệu lực (ví dụ: hợp đồng laođộng này có hiệu lực từ ngày 22 tháng 6 năm 2008);

+ Nếu đó là hợp đồng lao động theomùa, vụ, công việc nhất định, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao động làngày người lao động bắt đầu làm việc. Trong thực tế người ta có thể tính chínhxác thời điểm (ví dụ: người lao động bắt đầu làm việc từ 13 giờ ngày 22 tháng 6năm 2008);

+ Đối với trường hợp trước đó cácbên đã có một hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động đó đãchấm dứt nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc và người sử dụng lao độngvẫn mặc nhiên chấp nhận thì coi như giữa các bên đã tồn tại một quan hệ laođộng theo hợp đồng lao động và đó là hợp đồng lao động bằng hành vi. Thời điểmcó hiệu lực của hợp đồng lao động kế tiếp hợp đồng lao động cũ được tính từthời điểm người lao động bắt đầu làm việc.

Thực hiện hợp đồng lao động

Sau khi giao kết, quá trình duy trìmối quan hệ lao động được tiến hành trước hết qua việc thực hiện hợp đồng laođộng.

Về mặt nguyên tắc, hợp đồng lao độngphải được cả hai bên thực hiện. Các bên có nghĩa vụ tuân thủ các cam kết. Ngườisử dụng lao động có nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện lao động để người lao độngcó thể hoàn thành nghĩa vụ lao động. Người lao động phải tự mình thực hiện côngviệc đã cam kết (Điều 30 Bộ luật Lao động). Các quyền lợi theo hợp đồng laođộng phải được tôn trọng và thực thi đầy đủ.

Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luậtLao động, trong trường hợp gặp khó khăn đột xuất (do khắc phục hậu quả thiêntai, hoả hoạn, dịch bệnh; áp dụng cỏc biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp; sự cố điện, nước…) hoặc do nhu cầu sản xuất kinhdoanh người sử dụng lao động có quyền tạm thời chuyển người lao động làm côngviệc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày trong một năm. Khi tạm thờichuyển người lao động làm việc khác trái nghề, người sử dụng lao động phải báocho người lao động biết trước ít nhất ba ngày, phải báo rõ thời hạn làm tạmthời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ và giới tính của người lao động.Người lao động tạm thời làm công việc khác được trả lương theo công việc mới.Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương cũ thì được giữ nguyên mứctiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ítnhất phải bằng 70% mức tiền lương cũ nhưng không được thấp hơn mức lương tốithiểu do Nhà nước quy định.

Quy định trên coi như là một “ngoạilệ pháp lý” đối với việc thực hiện hợp đồng lao động. Bởi vì nó trái với nguyêntắc thực hiện đúng. Nhưng bởi vì đây là quy định của Bộ luật Lao động nên ngườilao động có trách nhiệm tuân theo pháp luật và sự quyết định mang tính đơnphương của người sử dụng lao động.

Trong trường hợp bị điều chuyển màngười lao động không chấp hành thì người sử dụng lao động có quyền xử lý kỷluật lao động đối với người lao động, bởi vì đó được coi là vi phạm kỷ luật laođộng.

Tuy nhiên, nếu vượt quá thời gianquy định (tức là vượt quá 60 ngày theo Bộ luật Lao động) thì người sử dụng laođộng không còn quyền đơn phương này. Nếu người sử dụng lao động cố tình điềuchuyển người lao động thì người lao động có quyền không tuân theo. Người lao độngcó quyền không thực hiện công việc mà người sử dụng lao động điều động sang làmmà vẫn có quyền được hưởng lương ngừng việc và coi đó là ngừng việc không dolỗi của bản thân.

Trong trường hợp điều chuyển vượtthời gian quy định đó, muốn đảm bảo tính hợp pháp thì hai bên phải tiến hànhthoả thuận về việc điều chuyển tạm thời hoặc vĩnh viễn theo quy tắc “thay đổihợp đồng lao động”.

Thay đổi hợp đồng lao động

Thay đổi hợp đồng lao động là việccác bên cùng nhau thoả thụân về việc thay đổi một hoặc nhiều nội dung của hợpđồng lao động đang còn hiệu lực. Về mặt nguyên tắc, việc thay đổi hợp đồng laođộng không chấp nhận việc một bên đơn phương quyết định mà phải là sự đồngthuận mới có giá trị.

Tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao độnglà việc ngừng lại không thực hiện hợp đồng lao động trong một khoảng thời giannhất định trong những trường hợp do pháp luật quy định.

Việc tạm hoãn hợp đồng lao động tạora những hệ luận pháp lý sau đây:

Một là, mặc dù hợp đồng lao động bìngừng thi hành nhưng giá trị pháp lý của hợp đồng lao động vẫn giữ nguyên nhưcũ. Các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng lao động coi như bị “đóng băng” vàđược “bảo quản”;

Hai là, vì người lao động không làmviệc nên không được hưởng lương. Việc trả lương cho người lao động bị tạm giữ,tạm giam là chủ ý của nhà nước (mặc dù việc này chỉ nên coi là khoản đảm bảochứ không hoàn toàn là tiền lương theo đúng nghĩa của nó).

Ba là, việc tạm hoãn không làm mấtđi thời gian còn lại của hợp đồng lao động đã xác định nếu đó là hợp đồng laođộng xác định thời hạn. Ví dụ: Nguyễn Văn K ký kết hợp đồng lao động 3 năm làmviệc cho Công ty P. Sau khi làm việc được một năm Nguyễn Văn K được gọi đi làmnghĩa vụ quân sự 18 tháng. Khi Nguyễn Văn K tạm hoãn hợp đồng lao động đi làmnghĩa vụ quân sự thì thời gian từ khi nhập ngũ đến khi xuất ngũ không được trừvào thời gian của hợp đồng lao động.

Bốn là, mặc dù người lao động khôngthực hiện nghĩa vụ lao động nhưng người sử dụng lao động vẫn có quyền xử lý đốivới người lao động có hành vi vi phạm, kể cả sa thải.

Năm là, hết thời hạn tạm hoãn thựchiện hợp đồng lao động người lao động phải có mặt để tiếp tục thực hiện hợpđồng lao động. Trong trường hợp không đến đúng thời điểm bắt đầu làm việc thìcó thể bị xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp có lý do chính đáng. Nếu vắng mặtkhông có lý do chính đáng, cộng dồn 5 ngày trở lên trong một tháng, từ 20 ngàytrở lên trong một năm thì có thể bị xử lý theo hình thức sa thải.

Sáu là, trong trường hợp người laođộng trở lại làm việc đúng thời gian, người sử dụng lao động “phải nhận ngườilao động trở lại làm việc” (Điều 35.2 Bộ luật Lao động).

Bảy là, trong trường hợp người laođộng bị tạm giữ, tạm giam thì tuân theo quy tắc sau:[5]

+ Nếu việc tạm giữ, tạm giam hình sựcó liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động thì khi hết hạn tạm giữ, tạm giamhoặc khi Toà án kết luận là người lao động bị oan thì người sử dụng lao độngphải nhận họ trở lại làm việc cũ, trả đủ tiền lương và các quyền lợi khác trongthời gian người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Nghị định số114/2002/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương.

+ Trường hợp người lao động là ngườiphạm pháp, nhưng Toà án xét xử cho miễn tố, không bị tù giam hoặc không bị toàán cấm làm công việc cũ, thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm, người sử dụnglao động bố trí cho người đó làm việc cũ hoặc sắp xếp cụng việc mới.

+ Trong trường hợp người lao động bịtạm giữ, tạm giam hình sự không liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, thì khihết thời hạn tạm giữ, tạm giam người sử dụng lao động bố trí cho người lao độnglàm việc cũ hoặc sắp xếp công việc mới.

Chấm dứt hợp đồng lao động

(a) Chấm dứt hợp đồng lao động đươngnhiên

Pháp luật không quy định như thế nàolà đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động. Nhưng theo cách hiểu chung, hợp đồnglao động được coi là đương nhiên chấm dứt khi rơi vào một trong những trườnghợp sau đây:

– Thời hạn thoả thuận theo hợp đồnglao động đã kết thúc (đối với hợp đồng lao động với thời hạn xác định);

– Công việc theo hợp đồng lao độngđã được hoạ thành (đối với hợp đồng lao động theo mùa, vụ, công việc nhấtđịnh);

– Người lao động chết;

Các trường hợp chấm dứt đương nhiênthể hiện rõ rằng không có sự can thiệp của bất kỳ chủ thể nào đối với sự chấmdứt đó. Những sự kiện khách quan xảy ra làm cho hợp đồng lao động tự động kếtthúc.

(b). Thoả thuận chấm dứt hợp đồnglao động

Các bên có quyền cùng nhau thỏathuận chấm dứt hợp đồng lao động đang còn hiệu lực miễn là ý chí chấm dứt làbiểu hiện của sự tự nguyện, nhất trí giữa các bên.

Việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồnglao động có thể có trước hoặc xuất hiện trong quá trình duy trì mối quan hệ hợpđồng lao động.

– Thoả thuận chấm dứt có trước:

Đó là trường hợp hai bên thỏa thuậnvề một hoặc những điều kiện mà hai bên cùng đặt cơ sở cho sự chấm dứt trongtương lai. Ví dụ: Trong bản hợp đồng lao động ký giữa Trần Văn K với công ty TNcó ghi: “Người lao động có nghĩa vụ tuân theo các cam kết trong hợp đồng laođộng này. Trong trường hợp người lao động có hành vi vô lễ đối với người lãnhđạo trực tiếp 2 lần trở lên thì hợp đồng lao động này sẽ chấm dứt ngay sau khingười sử dụng lao động thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động. Sự thôngbáo này không được hiểu là sự báo trước theo quy định của pháp luật”.

– Thoả thuận chấm dứt khi đang thựchiện hợp đồng lao động:

Trong quá trình thực hiện hợp đồnglao động nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên không muốn tiếp tục duy trì quanhệ lao động thì có thể cùng nhau thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động đó. Việcchấm dứt diễn ra khi hợp đồng lao động đó vẫn còn giá trị pháp lý. Có thể khôngbên nào có lỗi trong việc chấm dứt hợp đồng lao động đó.

Nói chung, các trường hợp chấm dứtdo có sự thỏa thuận đều đảm bảo yếu tố hợp pháp, trừ trường hợp thỏa thuận đóvi phạm pháp luật.

(c). Đơn phương chấm dứt hợp đồnglao động

Là việc một bên tự ý chấm dứt hợpđồng lao động không có sự đồng ý của phía bên kia.

Việc chấm dứt đơn phương có thể làhợp pháp, cũng có thể là bất hợp pháp.

Việc đơn phương chấm dứt hợp đồnglao động có thể do người sử dụng lao động thực hiện hoặc do người lao động thựchiện.

(d). Chấm dứt hợp đồng lao động bấthợp pháp

Chấm dứt hợp đồng lao động bất hợppháp là việc chấm dứt hợp đồng lao động không tuân theo các quy định của phápluật hoặc có thể xác định đó là trái pháp luật. Tuy nhiên, việc xác định cáctrường hợp chấm dứt hợp đồng lao động bất hợp pháp từ phía người lao động khônghoàn toàn giống các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật từphía người sử dụng lao động.

2.Quy trình 4 bước khi tư vấn và soạn thảo hợp đồng

1.Tiếp nhận thông tin và yêu cầu củakhách

Theo đó, không riêng gì đối với dịchvụ tư vấn và soạn thảo hợp đồng, việc tiếp nhận thông tin và yêu cầu của kháchhàng được xem là bước đầu tiên cho việc trao đổi thông tin giữa các Luật Sư hợpđồng và khách hàng. Việc tiếp nhận thông tin là một bước đệm quan trọng để LuậtSư hợp đồng có cái nhìn tổng quan về vụ việc cũng như định hướng được rõ ràngyêu cầu của khách hàng để cung cấp dịch vụ pháp lý phù hợp. Nếu quá trình tiếpnhận thông tin và yêu cầu này không được rõ ràng sẽ là nguyên nhân dẫn đến hệquả của việc cung cấp dịch vụ pháp lý sai với yêu cầu của khách hàng cũng nhưkhông đảm bảo chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi các

2. Tìm kiếm các quy định pháp luậtvà nghiên cứu thông tin tài liệu được cung cấp

Khi tiếp cận với bất kỳ một vấn đềpháp lý nào, Luật Sư hợp đồng phải tìm kiếm được cơ sở pháp lý cho các vấn đềcó liên quan để làm khung hành lang pháp lý cho công việc mà Luật Sư hợpđồngđang thực hiện. Ví dụ, khi được khách hàng yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lýliên quan đến việc tư vấn và soạn thảo hợp đồng thương mại, Luật Sư hợp đồngphải tiếp cận với các văn bản pháp luật có liên quan điều chỉnh về hợp đồngthương mại, để từ đó cung cấp ý kiến tư vấn pháp lý cho khách hàng một cáchchính xác và rõ ràng nhất, từ đó soạn thảo hợp đồng trên khung pháp lý đã đượcnghiên cứu và tìm hiểu kỹ lưỡng.

Bên cạnh tìm kiếm cơ sở pháp lý chovấn đề liên quan, các Luật Sư hợp đồng cũng cần nghiên cứu các tài liệu màkhách hàng cung cấp (các hồ sơ, chứng từ liên quan đến giao dịch khách hàngđang dự định thực hiện…). Việc nghiên cứu các tài liệu này giúp Luật Sư hợpđồng bổ sung thêm thông tin cho việc cung cấp ý kiến tư vấn và soạn thảo hợpđồng theo yêu cầu của khách hàng.

3.Cung cấp ý kiến tư vấn pháp lý

Sau khi đã tìm hiểu và nghiên cứucác quy định pháp luật, tài liệu được cung cấp, Luật Sư hợp đồngsẽ đưa ra ýkiến tư vấn pháp lý đối với các vấn đề liên quan đến hợp đồng. Nếu khách hàngcó yêu cầu rõ ràng cho nội dung ý kiến tư vấn pháp lý thì Luật Sư hợp đồng sẽcung cấp ý kiến tư vấn dựa trên cơ sở yêu cầu của khách hàng. Trong trường hợpyêu cầu tư vấn của khách hàng không rõ ràng, Luật Sư hợp đồng sẽ cung cấp ýkiến tư vấn cho những nội dung tổng quát và có liên quan, ảnh hưởng đến tínhhiệu lực của hợp đồng.

Hình thức cung cấp ý kiến tư vấnpháp lý sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận và lựa chọn giữa khách hàng và bên cungcấp dịch vụ. Theo đó, Luật Sư hợp đồng có thể cung cấp tư vấn trực tiếp thôngqua các buổi họp hoặc tư vấn thông qua email, thư tư vấn chính thức… Tuy nhiên,hình thức cung cấp ý kiến tư vấn pháp lý thường được thực hiện qua hình thứcemail, thư tư vấn pháp lý để tiện cho sự tham khảo, lưu trữ và thực hiện saunày.

4. Soạn thảo hợp đồng

Trên cơ sở ý kiến tư vấn pháp lý,Luật Sư hợp đồng sẽ soạn thảo hợp đồng căn cứ vào quyết định và lựa chọn củakhách hàng. Bởi vì hợp đồng là hành lang pháp lý quan trọng để các bên thựchiện giao dịch cũng như là cơ sở để giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có saunày, do đó, việc soạn thảo hợp đồng được thực hiện một cách kỹ lưỡng và đảm bảođược quy định pháp luật. Thông thường mỗi hợp đồng cụ thể sẽ có những nội dungkhác nhau, tuy nhiên, công việc của Luật Sư hợp đồng nói chung sẽ bao gồm trongviệc soạn thảo, thiết lập các điều khoản về chủ thể, đối tượng, nội dung, phạtvi phạm hay bồi thường thiệt hại… Khi soạn thảo hợp đồng, Luật Sư hợp đồng cũnglưu ý việc soạn thảo hợp đồng phải đảm bảo quy định pháp luật về nội dung vàhình thức, tránh rơi vào các trường hợp bị vô hiệu theo quy định Bộ luật dân sự.

3.Quy trình ký hợp đồng lao động

1. Hình thức của hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động được ký kết bằngvăn bản và phải được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Đối với một sốcông việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao độnggiúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng miệng. Trong trường hợpgiao kết bằng miệng, thì các bên đương nhiên phải tuân theo các quy định củapháp luật lao động. Điều 28- Bộ Luật Lao động

1.Hình thức của hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động được ký kết bằngvăn bản và phải được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Đối với một sốcông việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao độnggiúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng miệng. Trong trường hợp giaokết bằng miệng, thì các bên đương nhiên phải tuân theo các quy định của phápluật lao động.Điều 28- Bộ Luật Lao động

2.Nội dung của hợp đồng lao động

1- Hợp đồng lao động phải có nhữngnội dung chủ yếu sau đây: công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, thời hạn hợp đồng, điều kiện về an toànlao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động.

2- Trong trường hợp một phần hoặctoàn bộ nội dung của hợp đồng lao động quy định quyền lợi của người lao độngthấp hơn mức được quy định trong pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể,nội quy lao động đang áp dụng trong doanh nghiệp hoặc hạn chế các quyền kháccủa người lao động thì một phần hoặc toàn bộ nội dung đó phải được sửa đổi, bổsung.

3- Trong trường hợp phát hiện hợpđồng lao động có nội dung nói tại khoản 2 Điều này, thì Thanh tra lao độnghướng dẫn cho các bên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Nếu các bên không sửa đổi,bổ sung thì Thanh tra lao động có quyền buộc huỷ bỏ các nội dung đó.Điều 29- BộLuật Lao động

3.Chủ thể ký kết hợp đồng lao động

1- Hợp đồng lao động được giao kếttrực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động.

2- Hợp đồng lao động có thể được kýkết giữa người sử dụng lao động với người được uỷ quyền hợp pháp thay mặt chonhóm người lao động; trong trường hợp này hợp đồng có hiệu lực như ký kết vớitừng người.

3- Người lao động có thể giao kếtmột hoặc nhiều hợp đồng lao động, với một hoặc nhiều người sử dụng lao động,nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã giao kết.

4- Công việc theo hợp đồng lao độngphải do người giao kết thực hiện, không được giao cho người khác, nếu không cósự đồng ý của người sử dụng lao động.Điều 29- Bộ Luật Lao động

4.Hợp đồng lao động có thời hạn được ký tối đa mấy lần?

Hợp đồng lao động có thời hạn đượcký tối đa mấy lần hay doanh nghiệp muốn ký như thế nào cũng được. Pháp luậthiện hành quy định như thế nào về vấn đề này.

Có mấy loại hợp đồng lao động?

Điều 20 Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm2019 đã nêu rõ, hiện nay chỉ có hai loại hợp đồng lao động sau:

- Hợp đồng lao động không xác địnhthời hạn: Là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểmchấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

- Hợp đồng lao động xác định thờihạn: Là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệulực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lựccủa hợp đồng.

So với BLLĐ năm 2012, BLLĐ năm 2019đã bỏ quy định về “hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhấtđịnh có thời hạn dưới 12 tháng”.

Như vậy, hiện nay khi giao kết hợpđồng lao động, người lao động và người sử dụng lao động chỉ được ký một tronghai loại hợp đồng lao động là có thời hạn hoặc không xác định thời hạn.

Với các loại hợp đồng này, các bêncó thể lựa chọn giao kết theo hình thức văn bản hoặc thông qua phương tiện điệntử dưới hình thức thông điệp dữ liệu hoặc bằng lời nói (chỉ áp dụng với hợpđồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng).

Hợp đồng lao động có thời hạn đượcký tối đa mấy lần?

Căn cứ khoản 2 Điều 20 BLLĐ năm2019, khi hết hạn hợp đồng lao động mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thìhai bên phải ký hợp đồng mới trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đến hợp đồng đãký hết hạn.

- Hết thời hạn trên mà không ký hợpđồng mới: Hợp đồng có thời hạn mà các bên đã ký trước đó sẽ trở thành hợp đồngkhông xác định thời hạn.

- Ký hợp đồng mới trong thời hạn quyđịnh: Được ký thêm 01 lần hợp đồng lao động xác định thời hạn. Sau đó nếu ngườilao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác địnhthời hạn, trừ một số trường hợp.

Như vậy, có thể thấy, hợp đồng laođộng không xác định thời hạn thông thường chỉ được ký tối đa 02 lần.

Tuy nhiên căn cứ điểm c khoản 2 Điềunày, trong các trường hợp sau đây các bên có thể ký nhiều lần hợp đồng lao độngxác định thời hạn:

- Người được thuê làm giám đốc trongdoanh nghiệp có vốn nhà nước;

- Sử dụng người lao động cao tuổi;

- Sử dụng người lao động nước ngoàilàm việc tại Việt Nam;

- Gia hạn hợp đồng lao động đã giaokết đến hết nhiệm kỳ cho người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chứcđại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết hạn hợp đồng laođộng.

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV,THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều độingũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độcao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năngtư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghềnghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luậtsư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạnnhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểmvà khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vìsự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạođức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hysinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộcsống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vuicủa luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lạicông bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xãhội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng vănphòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinhnghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiềunăm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hìnhuy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam(VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tưvấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV GiaoThông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình QuốcHội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và phápluật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trêncả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo chonhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật vớitrường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luậtcho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn chonhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin,người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank,Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụGiết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái...và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính,doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tíchcực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sưchúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lýcho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.